Quay lại kiến thức
T
Chính tinh
Hành Thuỷ

Thái Âm

Mặt trăng — chủ điền trạch, tài âm, sự dịu dàng.

Ý nghĩa chính

Thái Âm chủ tài sản ngầm (điền trạch, tích sản), tính tình dịu dàng, tinh tế, giàu thẩm mỹ. Đắc địa (ban đêm) thì phú quý; hãm địa thì hay sầu muộn, ảnh hưởng nữ thân (mẹ, vợ, con gái).

Lưu ý: tên sao, cung, Can–Chi và các thuật ngữ Tử Vi được giữ nguyên tiếng Việt (Hán-Việt) — đây là danh từ riêng, không dịch. Chữ bản địa hiển thị trong ngoặc khi có.

Luận sâu theo sách

Thái Âm là sao Bắc Đẩu, hành âm Thủy, được sách xếp vào hàng Phúc tinh, chủ về cung Điền trạch, mang tính thông minh, hòa nhã. Thái Dương và Thái Âm cùng là chủ nhân của bầu trời, nhưng ánh sáng của Thái Âm phụ thuộc vào Thái Dương, nên Thái Âm mang tượng quẻ Khôn: cũng tốt đẹp như quẻ Càn nhưng thuận theo Càn. Nếu Thái Dương là người giáo hóa, đưa ra chủ trương đường lối, thì Thái Âm là người vạch kế hoạch.

Thái Âm là cát tinh, hóa khí làm "phú". Đây là điểm cốt lõi khi luận sao này: Thái Âm chủ về phú nhiều hơn quý, là tài tinh, nhưng tiền tài của Thái Âm đến từ tích lũy dần, "tích tiểu thành đa", khiến tình hình tài chính luôn ổn định chứ không phải hoạch tài "giàu có trong một đêm". Vì thế Thái Âm hội Lộc và đóng ở cung Điền trạch hay Tài bạch là hợp cách, có thể hiển lộ công năng về tiền bạc. Phú quý của Thái Âm cũng thuộc loại "phát muộn", đối ứng với tính "phát sớm" của Thái Dương.

Về bản chất, Thái Âm tượng trưng cho sự thừa hành, bao dung, lãng mạn và trọng tình cảm. Mặt trăng có tròn có khuyết nên người Thái Âm thủ Mệnh thường tâm trạng lên xuống bất định. Tính chất của Thái Âm là tiềm tàng, "thu vào" bên trong (ngược với Thái Dương phát xạ ra ngoài), nên người này mẫn cảm, tinh tế, giỏi hiểu ý người khác, hướng nội, dịu dàng, nhưng phần nhiều hay đa nghi, suy nghĩ chưa thoáng. Khi luận Thái Âm, điều sách nhấn mạnh là phải xem sao miếu hay hãm và có đứng đúng chỗ hay không: Thái Âm đóng Hợi, Tý là được cách đẹp (Hợi tốt hơn cả), Thân, Dậu, Tuất là thứ nhì; ở các cung "ban ngày" là không đắc chính, thường lầm lẫn, dù vậy Thái Âm cũng không làm hại ai.

Thái Âm luôn đi cặp với Thái Dương ở tam phương tứ chính, và trên 12 cung sẽ đồng độ hoặc đối xung với Thiên Đồng, Thái Dương hay Thiên Cơ. Khi Thái Âm thu vào quá đáng (hóa Kỵ, hoặc hội hợp Đà La, Linh Tinh, Thiên Hình, Đào Hoa), cần Thái Dương nhập miếu hoặc Hóa Lộc ở tam phương tứ chính hội hợp để bổ cứu, có thể cải thiện tính thu vào quá đáng, phát huy cái tốt mà không biến thành âm mưu thủ đoạn. Ngược lại, Thái Âm nhập miếu hóa cát lại ưa sự thu vào một cách thích đáng, gọi là "anh hoa nội liễm" – tài năng không lộ ra ngoài.

Điều đặc biệt là Thái Âm hóa ra đủ cả Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, và riêng hai can Canh, Quý đều khiến Thái Âm hóa Khoa, nên sách ví Thái Âm tượng trưng cho sự biến hóa không lường trước được. Nhìn tổng thể, Thái Âm và Thái Dương hội hợp mà cả hai đều miếu vượng thì cương nhu tương tế, là người có nội tài, cao thượng độ lượng; Thái Dương chủ sớm thành công còn Thái Âm chủ thành tựu muộn, nhu hòa uyển chuyển, dễ dàng lùi một bước để tiến lên về sau.

Theo độ sáng

Miếu / Vượng

Miếu địa: Dậu, Tuất, Hợi; vượng địa: Tý, Thân. Thái Âm miếu vượng là người thông minh, tuấn tú, độ lượng, hướng nội nhưng khá quang minh lỗi lạc, rất giàu cảm tính, có duyên với người chung quanh, thái độ đoan trang ôn hòa, tính từ thiện khiêm nhường, cuộc đời vui vẻ hạnh phúc, thích hưởng thụ, phong thái văn nhã lãng mạn. Thái Âm miếu vượng tốt nhất khi đóng cung Tài bạch, Điền trạch và cung Mệnh. Nhập miếu ở Hợi, Tý về cơ bản là tốt, không ngại Hóa Kỵ; nhưng dù miếu vượng cũng không điều khiển được Hỏa - Linh, gặp Không - Kiếp thì bất lợi về tiền tài nhưng không ảnh hưởng đến khoa danh.

Đắc địa

Đắc địa: Sửu - Mùi. Thái Âm đắc địa tọa Mệnh (cũng như miếu vượng) là người thông minh, khoan hòa nhân hậu, có khiếu văn chương mỹ thuật. Người Mệnh có Thái Âm đắc địa lại sinh ban đêm từ ngày 10 đến 20 thì hoàn mỹ; gặp thêm Xương - Khúc, Khôi - Việt, Tả - Hữu, Khoa Quyền Lộc, Đào - Hồng - Hỷ tất phú quý tột bậc và nổi tiếng.

Hãm địa

Hãm địa: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Thái Âm hãm thần sắc kém; nếu không được cát Hóa thường tính ương ngạnh, thích giao du, không tham cầu danh lợi, tính hơi khoa trương. Thái Âm hãm càng cần Khoa - Quyền - Lộc, Xương - Khúc, Khôi - Việt, Tả - Hữu; được cát Hóa và cát tinh thì cũng không đáng sợ, chỉ ngại gặp Tứ Sát, Không - Kiếp mà cung Phúc đức cũng không tốt thì mới xảy ra sự cố không vui. Thái Âm hãm gặp Sát tinh chủ tài lộc có lỗ hổng, tiền đến rồi đi, đời vất vả, dễ gặp vạ vì tiền. Thái Âm hãm gặp Hóa Kỵ như trăng mờ còn bị mây đen che. Đặc biệt, Thái Âm lạc hãm ở cung dương mà được cả Tam Minh và Tam Hóa hội hợp thì cực quý, gọi là "phản vi kỳ cách".

Khi đóng tại từng cung

Mệnh
Thái Âm tọa Mệnh thường tâm trạng lên xuống bất định như trăng tròn khuyết; người mẫn cảm tinh tế, hướng nội, dịu dàng nhưng phần nhiều hay đa nghi. Thái độ xử thế thuộc loại bị động, không có Tứ Hóa nhập thì nhu mì, không cự tuyệt kịch liệt nên dễ bị xem là lạnh nhạt, thâm trầm. Thái Âm sáng tọa Mệnh là cách đẹp (nhất là Hợi, Tý); Thái Âm hóa Lộc nhập Mệnh là cách cục làm chủ. Được Tả - Hữu có thể tăng địa vị, Khôi - Việt hội chiếu có lợi trong tranh chấp. Luận Mệnh Thái Âm phải đồng thời xem cung Phúc đức: Mệnh Thái Âm yên tịnh mà Phúc biến động không ổn định thì sự yên ổn bị ảnh hưởng.
Thiên Di
Thái Âm tọa Thiên Di cũng cho người mẫn cảm tinh tế, tâm tư tế nhị, giỏi hiểu ý người khác, cá tính khá hướng nội, dịu dàng nhu mì, nhưng phần nhiều hay đa nghi, suy nghĩ chưa thoáng.
Tài Bạch
Thái Âm chủ phú nên nhập Tài bạch là đắc vị, có thể hiển lộ công năng về tiền bạc; Thái Âm hội Lộc ở Tài bạch là hợp cách; Thái Âm hóa Lộc nhập Tài bạch sách nói ắt hẳn giàu có. Ngược lại Thái Âm hóa Kỵ nhập Tài bạch thường kiếm tiền bằng thủ đoạn, cũng có bản lãnh lách luật để kiếm tiền.
Điền Trạch
Thái Âm chủ điền trạch, nhập cung này là đắc vị, hợp cách khi hội Lộc; Thái Âm hóa Lộc nhập Điền trạch sách nói ắt hẳn giàu có. Thái Âm hóa Kỵ nhập Điền trạch tuy không tổn thất bất động sản nhưng vẫn có khiếm khuyết đáng tiếc, chủ gia đạo không yên.
Quan Lộc
Thái Âm hóa Lộc nhập cung Quan (cùng với Mệnh, Tài) là cách cục làm chủ.
Tật Ách
Thái Âm hóa Lộc nhập cung Tật ách lại không hay, vì "sao tài" bị giấu đi thì khó phát huy tác dụng.
Phúc Đức
Sách không luận riêng Thái Âm ở Phúc, nhưng nhấn mạnh cung Phúc đức ảnh hưởng sự yên ổn của Mệnh Thái Âm: ví dụ Mệnh "Thiên Đồng - Thái Âm" có Thái Âm hóa Lộc mà Phúc là "Cự Môn - Thái Dương" có Cự Môn hóa Kỵ, thêm hình sát thì tinh thần rắc rối khó xử. Thái Âm thủ Mệnh ở Tý thì Phúc nhất định là "Cự Môn - Thái Dương" ở Dần, gặp Sát tinh dễ dùng thủ đoạn không chính đáng khi tranh chấp.

Bộ sao hợp — tốt lên

  • Lộc Tồn – Hóa LộcThái Âm sáng gặp Lộc Tồn ắt giàu có; gặp Hóa Lộc và Lộc Tồn thành phú cách, khí tương đồng khiến nguồn sinh lực dồi dào không cạn; thêm Thiên Mã thì lợi về kinh doanh buôn bán, nhưng có nên gặp thêm Thiên Mã hay không còn phải xem Thái Âm miếu hay hãm và tinh hệ ổn định hay hiếu động trôi nổi.
  • Hóa Khoa – Hóa Quyền – Hóa LộcThái Âm gặp Tam Hóa tất thông minh, vừa giàu sang vừa có khoa bảng; được Quyền, Khoa hội chiếu thì cương nhu tương xứng; Thái Âm hóa Khoa càng thêm tôn quý, nhờ tiền tài mà nổi danh.
  • Văn Xương – Văn KhúcThái Âm gặp Xương - Khúc là có năng khiếu bẩm sinh, thông minh, có thể phát về văn chương; phú cách Thái Âm rất ưa Xương - Khúc. Riêng Thái Âm - Văn Khúc là có học thức, nữ mệnh xinh đẹp ăn nói dịu dàng.
  • Tả Phù – Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên ViệtTả - Hữu có thể làm tăng địa vị, Khôi - Việt hội chiếu có lợi trong tranh chấp; Thái Âm được cặp Tả Phù - Văn Khúc phò tá chẳng khác gì Tử Vi có Tả - Hữu. Cách Minh châu xuất hải cũng cần Tả - Hữu mới toàn bích.
  • Tứ LinhThái Âm gặp Tứ Linh thường rất hiển hách, làm Nhật - Nguyệt thêm cao quý, dù gặp Sát tinh cũng bớt xấu.
  • Tử Vi – Thiên Tướng – Đào Hoa – Hồng Loan – Thiên HỷThái Âm miếu đắc gặp nhiều sao sáng như Tử Vi, Thiên Tướng, Đào - Hồng - Hỷ cùng Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc hội hợp tất khoa bảng cao, danh tiếng quý hiển, phú quý tột bậc.
  • Thái DươngThái Dương nhập miếu hoặc Hóa Lộc ở tam phương tứ chính hội hợp có thể cải thiện tính thu vào quá đáng của Thái Âm; cách Nhật - Nguyệt tịnh minh (Nhật Mão - Nguyệt Hợi, Nhật Thìn - Nguyệt Tuất) hay Nhật Nguyệt giáp Mệnh (Thiên Phủ hoặc Vũ - Tham ở Sửu Mùi được Nhật Nguyệt kèm hai bên) chủ một đời giàu có.
  • Ân Quang – Thiên QuýThái Âm gặp Không - Kiếp cần có bộ Quang - Quý để hóa giải phần nào.

Bộ sao kỵ — xấu đi

  • Kình Dương – Đà LaThái Âm không ưa Kình - Đà, thường chủ khắc người thân, với người thì chia ly, tiền tài hao tán; đời vất vả khó nhọc, tính cách xảo trá, càng đúng khi Thái Âm hãm. Thái Âm hãm ngộ Đà La thì ở đâu trên lá số đời cũng buồn nhiều hơn vui, nữ số càng tệ.
  • Hỏa Tinh – Linh TinhThái Âm dù miếu vượng cũng không điều khiển được Hỏa - Linh, còn tiềm ẩn mối họa không nhỏ; gặp Hỏa - Linh chủ đời vất vả, khó nhọc. Mức độ ưa hay ghét Hỏa - Linh còn phải xem độ sáng của Thái Âm mà định.
  • Địa Không – Địa KiếpKhông - Kiếp đồng độ khiến Thái Âm nhiều ảo tưởng, hay bất mãn; Thái Âm gặp Kình - Đà, Không - Kiếp trở thành phá cách; gặp Không - Kiếp, Kình - Đà, Hỏa - Linh thường cô đơn cùng khổ.
  • Thiên Diêu – Đà La – Hóa KỵThái Âm gặp Diêu - Đà - Kỵ thường lao khổ nghèo hèn; gặp nhiều sao mờ ám nhất là Kỵ - Diêu - Hình thì không được hưởng giàu sang trọn vẹn.
  • Hóa KỵThái Âm sáng gặp Hóa Kỵ lại xấu; Thái Âm hãm gặp Hóa Kỵ như trăng mờ bị mây đen che. Thái Âm hóa Kỵ có thể khiến người lạnh lùng, nhất là thủ Mệnh ở cung ban ngày thường nặng hoài nghi, tâm tình âu sầu, dễ sai lầm tình cảm hay phán đoán sai mà đầu tư thất bại, thường bất lợi cho nữ. Ngoại lệ: Nhật - Nguyệt đồng độ ở Sửu - Mùi gặp Hóa Kỵ lại thêm toàn mỹ, và Thái Âm hóa Kỵ tại Hợi thành kỳ cách "biến cảnh" (nếu tránh xa Kình Đà, Không Kiếp, Hỏa Linh).
  • Cự Môn – Hóa KỵThái Âm (nhất là hãm) gặp Cự Môn hóa Kỵ sẽ đem đến nhiều phiền lụy, phá mất cái tốt của việc hợp chiếu.
  • Thiên LươngThái Âm không ưa Thiên Lương hãm địa; Thái Âm ở Tỵ mà Thái Dương - Thiên Lương từ Dậu hội chiếu thường đưa đến vợ chồng ly tán; Thái Âm hãm gặp Thiên Lương chiếu, với đàn bà thường dâm đãng.
  • Thiên KhôngTổ hợp Thái Âm - Thiên Không rất cần Thái Âm hóa Khoa để hóa giải tính gian hùng thủ đoạn, đề phòng "chim bay giữa trời gãy cánh".
  • Thiên Cơ – Văn Xương – Văn KhúcKết cấu Thái Âm hiếu động trôi nổi thì không nên gặp Xương - Khúc: Thiên Cơ - Thái Âm ở Dần có Xương Khúc, cổ nhân nói nam là nô bộc, nữ tỳ xướng; gặp Xương - Diêu thì đa tình.
Tính cách
Hướng nội, dịu dàng nhu mì, mẫn cảm tinh tế, giỏi hiểu ý người khác, giàu tình cảm và khả năng tiếp phát tình cảm sâu sắc, lãng mạn, trọng tình, bao dung, ôn hòa, thuần tính; nhưng tâm trạng dễ lên xuống bất định, phần nhiều hay đa nghi, suy nghĩ chưa thoáng, xử thế bị động. Miếu vượng thì khoan hòa nhân hậu, độ lượng, khiêm nhường, từ thiện, thích hưởng thụ, phong thái văn nhã. Hãm thì ương ngạnh, thích giao du, không tham danh lợi, hơi khoa trương. Hóa Lộc thì nhiệt tình, chân thành, không từ chối người; hóa Quyền biến bị động thành chủ động, tích cực nhưng không hấp tấp, có thể là cao thủ trù tính kế hoạch, hơi nóng nảy nhưng bề ngoài vẫn ôn hòa; hóa Khoa lý trí, nhạy cảm, trí tuệ vững vàng, khí chất thư sinh; hóa Kỵ có thể lạnh lùng, hoài nghi, bất cận nhân tình.
Nghề nghiệp hợp
Thái Âm giữ vai trò vạch kế hoạch, tìm kiếm tài chính; phát huy sở trường ở việc vạch phương hướng, kế hoạch, hợp công tác nội vụ (nhất là Thiên Đồng - Thái Âm thủ Mệnh ở Ngọ). Có khiếu văn chương, mỹ thuật, tài văn bút; gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, Hóa Lộc thì lợi về kinh doanh buôn bán. Thái Âm hóa Quyền, bất kể nam nữ, là người sáng lập cơ nghiệp. Thái Âm đóng ở chỗ tranh đấu sẽ không có khả năng vì không đúng chỗ.
Tướng mạo
Miếu vượng hay đắc địa tọa Mệnh: thân hình hơi cao, mặt hơi tròn đầy đặn, mắt sáng. Thái Âm hãm thì thần sắc kém. Thái Âm hóa Khoa hiện rõ khí chất thư sinh, có nội hàm; nam mệnh Thái Âm hóa Quyền có nét đẹp mạnh mẽ.
Nam / nữ
Nữ mệnh Thái Âm có tính âm nhu rất đặc biệt, dễ thu hút sự chú ý, phần nhiều ngoại hình tú lệ, rất có duyên với phái nam, khí chất nhu thuận, văn nhã, thích yên tĩnh; Thái Âm - Văn Khúc nữ mệnh xinh đẹp, ăn nói dịu dàng; Thái Âm - Thiên Đồng ở Tý nữ mệnh nhan sắc diễm lệ, tâm địa trung lương. Tuy nhiên Thái Âm hóa Kỵ thường bất lợi cho phái nữ; Thái Âm hãm ngộ Đà La với nữ số càng tệ; Thái Âm hãm gặp Thiên Lương chiếu, với đàn bà thường dâm đãng. Nam mệnh Thái Âm hóa Quyền có nét đẹp mạnh mẽ.

Lưu ý: Luận Thái Âm phải dựa trên: miếu hay hãm, và có đứng đúng chỗ hay không (Hợi, Tý đẹp nhất; Thân, Dậu, Tuất thứ nhì; cung ban ngày là không đắc chính). Luôn phải xem kèm cung Phúc đức và cặp sao đôi Thái Dương. Thái Âm ở 12 cung luôn đồng độ hoặc đối xung với Thiên Đồng (Tý-Ngọ, Mão-Dậu), Thái Dương (Thìn-Tuất, Sửu-Mùi), Thiên Cơ (Dần-Thân, Tỵ-Hợi). Thái Âm hóa Kỵ lại tự hóa Quyền, thêm một trong Hỏa - Linh, Kình - Đà đồng độ thì hung tính nổi lên như sét đánh. Can Canh và can Quý đều khiến Thái Âm hóa Khoa, nhưng người tuổi Canh nổi tiếng nhờ chân tài thực học, người tuổi Quý tài hoa thường khoa trương, danh tiếng khó lâu dài; Thái Âm hóa Khoa ở cung hãm gặp Xương hay Khúc hóa Kỵ thêm Hỏa - Linh chủ lưu truyền tiếng xấu. Thái Âm ở Tý người tuổi Bính, Đinh giàu sang, tâm địa trung lương. Cách Minh châu xuất hải: Mệnh VCD ở Mùi, Thái Âm ở Hợi, Thái Dương ở Mão, cần Tả - Hữu đứng cùng mới toàn bích.

Nguồn: Tử Vi cơ bản — Nguyễn Văn Bổng, tr. 147–153

Điểm mạnh
  • Tinh tế, giàu thẩm mỹ
  • Khéo tích lũy điền sản
  • Dịu dàng, chu đáo
Điểm yếu
  • Hãm địa dễ u sầu, nội tâm
  • Thiếu quyết đoán

Muốn biết sao Thái Âm ở cung nào trong lá số bạn?

Lập lá số miễn phí để xem vị trí và ảnh hưởng cụ thể.

Lập lá số ngay