Quay lại kiến thức
T
Sát tinh

Thiên Không

Trí cao siêu nhưng cực đoan, dễ thành bại bất ngờ.

Ý nghĩa chính

Thiên Không chủ tư tưởng phóng khoáng, cao siêu, khác người; song dễ cực đoan, viển vông, thành bại bất ngờ. Hợp tâm linh, sáng tạo hơn là tích sản.

Lưu ý: tên sao, cung, Can–Chi và các thuật ngữ Tử Vi được giữ nguyên tiếng Việt (Hán-Việt) — đây là danh từ riêng, không dịch. Chữ bản địa hiển thị trong ngoặc khi có.

Luận sâu theo sách

Thiên Không chỉ là phụ tinh cấp ba, khởi từ cung Sửu đếm thuận đến địa chi năm sinh nên luôn đứng ngay sau Thái Tuế và luôn đồng độ với Thiếu Dương trong vòng Thái Tuế. Sách coi nó là tinh diệu rất đặc biệt: chủ về sự linh mẫn của trí tuệ, tư tưởng triết lý độc đáo và tham vọng xưng hùng xưng bá trong thế giới riêng. Nét nổi bật là thông minh kiểu ma quái, mưu lược ứng biến, nặng tư tưởng chiếm đoạt, muốn biến không có gì thành có. Sách nhấn mạnh phải phân biệt Thiên Không với Địa Không: Địa Không – Địa Kiếp chủ tổn thất, làm cái đã có thành không; còn Thiên Không là trí tuệ quyền biến, phá cũ lập mới, luôn đặt mình ở thế chủ động chiếm hữu.

Điểm mấu chốt sách nói rõ: Thiên Không không có đắc hãm, tốt hay xấu hoàn toàn tùy bản lãnh của chủ tinh ở tuyến Mệnh – Di và sự tương thích với Bản Mệnh. Khi chủ tinh đẳng cấp cao như Tử Vi, Thái Dương, Thất Sát miếu vượng, lại được Tứ Hóa năm sinh tọa chiếu ngã cung, Thiên Không biến thành tư tưởng triết lý độc đáo, có thể nâng tầm mệnh số thành lãnh tụ hay tướng lĩnh. Khi chủ tinh không đủ tầm thế, Thiên Không biến mệnh số thành kẻ gian hùng thủ đoạn; mệnh cách thấp thường là đối tượng lừa đảo tinh vi. Câu cổ nhân Thiên Không bán thiên triết sỉ, chim bay giữa trời gãy cánh, sách giải thích là do tham vọng đi quá trớn, thông minh lại bị thông minh trị, trèo cao ngã đau, cuối cùng biến có thành không.

Muốn đánh giá đúng thái độ của Thiên Không cần xem nó đứng với Đào Hoa hay Hồng Loan. Đào Hoa (Mộc) thổi bùng ngọn lửa tham vọng: Thiên Không – Đào Hoa ở Mệnh là tư tưởng đầy tham vọng, gian hùng, thủ đoạn bất cận nhân tình, thuộc bản chất cố hữu khó giáo hóa, rất cần Lộc Tồn hay Hóa Khoa để hóa giải. Hồng Loan (Thủy) khắc chế Thiên Không, khiến thủ đoạn nhân văn hơn, người rộng lượng, hiền lành, thấy xa hiểu rộng, mang tư tưởng siêu thoát; nhưng nếu chủ tinh không vững thì siêu thoát dễ thành ảo tưởng, và cũng dễ bị lợi dụng, thành nạn nhân của kẻ gian hùng. Hội cả Đào lẫn Hồng là cả Nho lẫn Đạo trong người, phấn đấu hăng say rồi chán nản quy ẩn.

Thiên Không đáng lưu ý nhất ở bốn cung Mệnh – Di, Phụ – Tật vì quyết định năng lực sinh tồn. Ở Quan Lộc thường bị kiềm chế, đố kỵ trong hoạn lộ, khó giữ chức lớn, dễ gãy đổ sự nghiệp; ở Tài Bạch biểu hiện giao dịch thiếu chân thực, phương thức kiếm tiền có điều mờ ám; ở Phúc Đức thì động niệm thiếu quang minh hoặc suy tưởng xa thực tế. Ở các cung không liên quan tư tưởng thì không đáng ngại, nhưng lâm hạn Thiên Không thường khiến mất phương hướng, hao tán tiền của, nghề nghiệp trục trặc, điền sản hư hại.

Sách kết luận: bộ Đào – Không hay Hồng – Không dù gì cũng mang tính vạn sự giai không. Người đạo đức không màng phú quý là cái Không cao cả; kẻ mưu sĩ quỷ quyệt xoay sở lắm rồi cũng lãnh cái Không bù trừ; chỉ trường hợp Hồng Loan, người sáng suốt, có thể sống yên lành, song vẫn phải xem hai đường Kỵ chuyển Lộc và Kỵ chuyển Kỵ của cung Mệnh để biết mục đích là công lợi hay tư lợi.

Theo độ sáng

Miếu / Vượng

Sách nói rõ Thiên Không chẳng có đắc hãm gì cả; mạnh yếu, chính tà tùy đẳng cấp chủ tinh: chủ tinh cao như Tử Vi, Thái Dương, Thất Sát miếu vượng thì Thiên Không thành tư tưởng triết lý độc đáo, phò tá minh chủ.

Hãm địa

Chủ tinh thấp kém thì Thiên Không biến chủ tinh thành kẻ lừa đảo hạ lưu; Mệnh vô chính diệu gặp Thiên Không mà thiếu quý tinh thành ngụy quân tử.

Khi đóng tại từng cung

Mệnh
Trí tuệ thông minh, trực giác nhạy bén, đa mưu quyền biến nhưng là trí tuệ của kẻ gian hùng, tham vọng thế giới riêng; đại biểu cho đại gian hùng bá đạo. Với chủ tinh nhập miếu như Tử Vi, Thái Dương có thể là lãnh tụ chính trị; thêm sát tinh thành gian hùng độc đoán. Thiên Không – Đào Hoa ở Mệnh là bản chất cố hữu, cần Lộc Tồn hay Hóa Khoa hóa giải; Thiên Không – Hồng Loan ở Mệnh rộng lượng, hiền lành nhưng dễ thành nạn nhân.
Thân
Bí kinh nói Thân, Mệnh không nên gặp Thiên Không.
Tật Ách
Trí tuệ linh mẫn, có linh cảm giác quan thứ sáu; nếu Tật Ách tự Hóa Kỵ thì tâm thần vô định. Thiên Không – Đào Hoa ở Tật Ách khiến nội tâm xung động, vô cảm; gặp tự Hóa Kỵ dễ thành bệnh tâm thần bẩm sinh, dễ bất đắc kỳ tử.
Thiên Di
Không trực tiếp liên quan tư tưởng chính trị, nhưng Mệnh phi cát Hóa nhập Thiên Di thì có cơ hội hoạt động trong môi trường chính trị, công quyền. Bất kỳ cung nào phi Hóa Kỵ nhập Thiên Di đều kích động Thiên Không xung phá Mệnh; Tật Ách phi Kỵ nhập thì phá cách khoa bảng, dễ tâm thần bất định; Phụ Mẫu phi Kỵ nhập dễ mang họa pháp lý.
Phụ Mẫu
Chưa khẳng định gì; Mệnh phi cát Hóa nhập Phụ Mẫu là có hoạt động chính sự, liên hệ với cấp lãnh đạo nhà nước. Tật Ách hay Mệnh phi Hóa Kỵ nhập Phụ Mẫu kích động Thiên Không: phá cách khoa bảng, áp lực tinh thần, hoang tưởng; đại hạn thứ hai tới Phụ Mẫu dễ mất phương hướng học hành thi cử.
Quan Lộc
Bị kiềm chế trong hoạn lộ, hay bị đố kỵ ganh ghét, không giữ được chức vụ lớn hoặc không bền, dễ gãy đổ; sách nói bất kỳ tổ hợp nào của Thiên Không ở Quan Lộc đều gây đổ vỡ.
Tài Bạch
Giao tiếp không chân thực, thủ đoạn; phương thức làm ăn, kiếm tiền có điều mờ ám bất chính; là kẻ trực tiếp điều hành, chộp giật cơ hội, cần chú ý khi giao dịch, ký hợp đồng.
Phúc Đức
Động niệm thiếu quang minh chính đại, hoặc suy tưởng thiếu thực tế.

Bộ sao hợp — tốt lên

  • Thiên Không – Tử Vi – Thái Dương – Thất SátChủ tinh miếu vượng đủ tầm thế cầm cương Thiên Không, biến nó thành trí tuệ phò tá, có thể thành lãnh tụ, tướng lĩnh.
  • Thiên Không – Hồng Loan – Lộc Tồn – Hóa KhoaCó thể hóa giải sự bá đạo của Thiên Không; Lộc Tồn hay Hóa Khoa ở Mệnh rất cần cho cách Thiên Không – Đào Hoa.
  • Thiên Không – Tả Phù – Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên ViệtKhi chủ tinh cường vượng, Tứ Hóa hợp cách: cơ trí nhạy bén, có năng lực quản lý.
  • Thiên Không – Văn Xương – Văn Khúc – Ân Quang – Thiên QuýTình cảm phong phú, sùng bái tôn giáo tín ngưỡng.
  • Thiên Không – Thiên Hỷ – Hồng LoanThủy khắc chế Thiên Không; tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi có Thiên Không – Hồng Loan đồng độ là vị trí Thiên Không ít tàn phá nhất, được ví là tổ hợp của nhà tu hành.

Bộ sao kỵ — xấu đi

  • Thiên Không – Đào HoaĐào Hoa Mộc sinh Thiên Không Hỏa, thổi bùng tham vọng: gian hùng, thủ đoạn tàn độc, bất cận nhân tình; thêm Phá Toái càng ngang trái, sự nghiệp dễ đổ vỡ; về già gặp thường chuyển ra buồn thương.
  • Thiên Không – Phá Quân – Liêm TrinhCác sao biến động, khắc nghiệt khiến mệnh số liều lĩnh tàn độc; Liêm – Phá – Thiên Không thêm Kình Đà, Hỏa Linh ví như trùm băng đảng.
  • Thiên Không – Thiên Cơ – Cự MônĐồng độ thành gian manh lừa đảo; Cơ – Cự – Hỏa Tinh hay Đồng – Lương, Thiên Mã gặp Thiên Không càng phù động thiếu thực tế.
  • Thiên Không – Kình Dương – Đà La – Hỏa Tinh – Linh Tinh – Địa Không – Địa Kiếp – Hóa KỵĐồng độ với sát kỵ là hành sự táo bạo, thủ đoạn bất cận nhân tình, ngụy quân tử; Phá Quân hay Cự Môn – Thiên Không – Lục Sát là mệnh cách biến động lớn, liều lĩnh.
  • Thiên Không – Thiên Tướng – Văn Xương – Hóa KỵThiên Tướng đắc địa gặp Thiên Không là kẻ quyền uy mưu lược; thêm Xương hay Khúc hóa Kỵ thì khoa trương, thiếu độ tin cậy.
  • Thiên Không – Tử Vi – Thiên Phủ – Lộc TồnBí kinh lưu truyền cho rằng các sao này gặp Thiên Không kể như vào đất chết; sách cho là dân gian quá quan ngại vì chưa hiểu bản chất Thiên Không.
Tính cách
Cực kỳ thông minh đa biến, trực giác nhạy bén, tư tưởng kiên định phá cũ lập mới, tham vọng không giới hạn, chủ động chiếm hữu, bất chấp thủ đoạn; chủ quan tự phụ; thích đạp đổ để xây lại theo ý mình.
Nghề nghiệp hợp
Rất hợp với người làm chính trị hay kinh thương; mệnh cách cao là nhà hoạt động chính trị, chủ doanh nghiệp; mệnh cách thấp dễ là đối tượng lừa đảo. Trong tuyển dụng lãnh đạo nòng cốt, sách khuyên thận trọng với cách Thiên Không chủ tinh mờ xấu.

Lưu ý: Thiên Không không có đắc hãm; muốn kết luận phải xem bản lãnh chủ tinh tuyến Mệnh – Di, sự hợp với Bản Mệnh, Thiên Không đứng với Đào Hoa hay Hồng Loan, và hai đường Kỵ chuyển Lộc, Kỵ chuyển Kỵ của cung Mệnh. Ảnh hưởng bao trùm cả bản cung lẫn đối cung; hành vận gặp thường mất phương hướng, bán thiên triết sỉ. Tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi: Thiên Không ở Tứ Sinh cùng Hồng Loan, ít tàn phá nhất; tuổi Dần Thân Tỵ Hợi: ở Tứ Chính cùng Đào Hoa, gian hùng nhất; tuổi Tý Ngọ Mão Dậu: ở Tứ Mộ, khảng khái nhưng quá cứng rắn, Tài Bạch có Đào – Hỷ nên may mắn về tiền.

Nguồn: Tử Vi cơ bản — Nguyễn Văn Bổng, tr. 690–719

Điểm mạnh
  • Tư duy cao siêu, khác người
  • Hợp tâm linh, sáng tạo
Điểm yếu
  • Cực đoan, viển vông
  • Thành bại bất ngờ

Muốn biết sao Thiên Không ở cung nào trong lá số bạn?

Lập lá số miễn phí để xem vị trí và ảnh hưởng cụ thể.

Lập lá số ngay